| Những điểm mới của dự thảo Luật Quốc tịch |
|
Nội dung đáng chú ý nhất của Dự thảo là bãi bỏ nguyên tắc một quốc tịch, mở rộng diện những người có hai quốc tịch. Theo đó, Điều 3 Luật Quốc tịch 1998 về nguyên tắc một quốc tịch được bãi bỏ. Thay vào đó, Điều 12 của Dự thảo quy định rằng “Người Việt Nam định cư ở nước ngòai mà chưa được thôi, chưa bị tước quốc tịch Việt Nam hoặc chưa bị mất quốc tịch Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thì vẫn là người có quốc tịch Việt Nam”. Quy định này phù hợp xu hướng hội nhập hiện nay khi mà việc công nhận nhiều quốc tịch cho công dân được xác định trên cơ sở lợi ích của công dân và đặc biệt là tâm tư nguyện vọng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.Để xác định một người có quốc tịch Việt nam, Dự thảo đưa ra 05 căn cứ, bao gồm: trẻ em có cha mẹ/cha hoặc mẹ là công dân Việt nam, trẻ em sinh ra tại Việt nam có cha mẹ là người không quốc tịch; người được nhập quốc tịch Việt Nam, được trở lại quốc tịch Việt Nam; trẻ em bị bỏ rơi, tìm thấy tại Việt nam; con/con nuôi chưa thành niên khi cha, mẹ nhập, trở lại quốc tịch Việt nam; và theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.Dự thảo cũng nêu ra các loại giấy tờ để chứng minh quốc tịch Việt Nam của một cá nhân bao gồm: (i) Giấy khai sinh, (ii) CMND hoặc hộ chiếu Việt Nam còn giá trị sử dụng; (iii) Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam hoặc Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam; và (iv) Các giấy tờ khác do Chính phủ quy định.Đối với trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng không có các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam thì phải thực hiện thủ tục đăng ký trong thời hạn tối đa 05 năm kể từ ngày Luật Quốc tịch sửa đổi có hiệu lực. Hết thời hạn đăng ký nói trên, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải làm thủ tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam nếu muốn có quốc tịch Việt nam.Nội dung thứ hai là quy định về việc miễn, giảm điều kiện nhập quốc tịch và bỏ điều kiện trở lại quốc tịch trong một số trường hợp cụ thể. Theo Luật Quốc tịch 1998 và theo Điều 18 Dự thảo thì, công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam, thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện: (i) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam; (ii) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; (iii) tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; (iv) Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam; (v) Đã thường trú ở Việt Nam từ năm năm trở lên; và (vi) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.Tuy nhiên, theo Điều 19 của Dự thảo, nếu người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc các trường hợp công dân nước ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Luật Quốc Tịch sửa đổi được Chủ tịch nước cho phép giữ lại quốc tịch nước ngoài thì được miễn các điều kiện (iv), (v) và (vi) nói trên. Dự thảo cũng đã bãi bỏ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam đối với người đã mất quốc tịch Việt Nam trong trường hợp việc trở lại quốc tịch không làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam, đồng thời có thể giữ lại quốc tịch nước ngòai nếu có lý do chính đáng và được Chủ tịch nước cho phép. Nội dung tiếp theo là quy định về việc đăng ký quốc tịch cho người không quốc tịch, không rõ quốc tịch đang sinh sống ở Việt Nam. Theo đó, người không quốc tịch và không rõ quốc tịch nước nào đang sinh sống tại Việt Nam nếu có nguyện vọng đăng ký quốc tịch Việt Nam thì được đăng ký quốc tịch Việt Nam trong thời hạn ba năm kể từ ngày Luật Quốc Tịch sửa đổi có hiệu lực.Nội dung đáng lưu ý sau cùng là việc rút ngắn thời gian giải quyết đối với các vấn đề về quốc tịch. Cụ thể, thời gian giải quyết đối với hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam được rút ngắn xuống còn 09 tháng thay vì 12 tháng theo Luật Quốc Tịch 1998; đối với hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, xin trở lại quốc tịch Việt Nam là 3 tháng (theo Luật quốc tịch 1998 là 12 tháng) và đối với hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam là 01 tháng thay vì 90 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhận được đủ hồ sơ hợp lệ./.VPLS-VT (Theo Indochine Counsel) |
