Bằng sự cố gắng trui rèn, bồi đắp các tố chất nghề nghiệp, đội ngũ luật sư Việt Nam đang từng bước trở thành một thành tố không thể thiếu được trong ngôi nhà chung của nền tư pháp thống nhất, góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền văn hóa pháp luật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, hướng đến việc xây dựng nền tư pháp nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nếu như các nhà từ điển học quan niệm văn hóa trên nhiều phương diện khác nhau, coi đó là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử, là đời sống tinh thần của con người, tri thức khoa học, trình độ học vấn, hay đơn giản là lối sống, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh (1)..., dường như văn hóa pháp luật nói chung và văn hóa nghề nghiệp luật sư nói riêng lại chưa được nhận diện một cách rõ nét trong đời sống xã hội và đời sống pháp lý ở nước ta. Trong điều kiện việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng văn hóa pháp luật Việt Nam mới được triển khai trong thời gian gần đây, bài viết này đề cập đến một số suy nghĩ ban đầu liên quan việc xây dựng văn hóa nghề nghiệp luật sư như là một phân ngành của văn hóa pháp luật Việt Nam.
1. Nhận diện cơ sở hình thành văn hóa pháp luật Việt Nam
1.1. Cội nguồn nhân nghĩa nuôi dưỡng pháp luật Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển nghề luật sư ở Việt Nam chứa đựng trong đó những vết tích còn lưu giữ trong các tầng giá trị văn hóa, sự chuyển biến trong quan niệm cai trị của giai cấp nắm quyền lực và trong pháp luật thành văn. Có thể nói, cội nguồn nhân nghĩa Việt Nam đã tạo thành nền tảng phát triển xã hội, các thiết chế tư pháp và pháp luật, thúc đẩy cho sự hình thành và nuôi dưỡng các giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra, trong đó kết tinh là các giá trị tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư pháp nói chung và bảo đảm quyền bào chữa, nhờ người khác bào chữa của công dân nói riêng.
Truyền thống văn hóa của dân tộc ta trước hết được đúc kết bởi lòng nhân ái, tình thương yêu đồng loại, trong đó hiển hiện sáng ngời là tư tưởng nhân nghĩa của nhiều bậc minh quân cai trị trong xã hội phong kiến. Từ sự thương xót về nỗi thống khổ của những người bị giam trong ngục tối, từ đó nhất loạt khoan giảm của vua Lý Thánh Tông (1054-1072) (2)[1], đến tư tưởng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, với lời thỉnh cầu tha thiết đến cháy lòng của ông với nhà vua Lê Thái Tông vào năm 1435 như thấu đến trời xanh: “Nguyện xin bệ hạ yêu thương muôn dân, để chốn cùng thôn vắng không còn tiếng oán hận sầu than”[1](3). Bộ Lê triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật) vào thế kỷ thứ XV đã ghi nhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ trong các điều khoản về việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người phạm tội, cho phép họ tự bảo vệ và bảo đảm việc “tranh biện” kỹ lưỡng (4). Cội nguồn nhân nghĩa nói trên đã gầy dựng nên hòa khí của đất nước, là gốc rễ của nền văn hóa Việt Nam, sau này được đúc kết trong câu nói nổi tiếng của Bác Hồ: “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác trong lúc này, là vấn đề ở đời, và làm người”(5)[1].
Trải nghiệm qua thực tiễn đau thương của đất nước trong thời kỳ Pháp thuộc và bôn ba trong hành trình tìm kiếm các giá trị văn minh pháp lý của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấu hiểu hơn ai hết nỗi đau của người dân sống trong kiếp nô lệ và Người nhận ra chân lý là quyền và tự do của cá nhân, trong đó có quyền được hưởng sự công bằng về pháp luật và sự trợ giúp về mặt pháp lý, chỉ có thể được thể hiện một cách thực chất nhất khi dân tộc có được nền độc lập và tự do. Chính Người đã chuyển hóa một cách tài tình quan điểm về quyền và tự do cá nhân trong tư tưởng pháp lý tư sản thành quyền của “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(6). Trên một khía cạnh khác, Người quan niệm: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”(7)[1]. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, lời Bác Hồ dặn như một minh chứng cho tư tưởng của Người về nhân quyền, về sự bảo đảm bằng pháp luật các quyền tự do cơ bản của công dân. Cũng trong một cách tiếp cận như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc kiến thiết đất nước sau khi giành chính quyền còn khó hơn vì nó đụng chạm đến quyền lợi riêng của các tầng lớp nhân dân, nên ngay trong hoạt động xét xử “nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu vô lý, làm cho dân kinh khủng”(8). Bác còn nhắc nhở cán bộ ngành Tòa án vào năm 1950: “Xét xử đúng là tốt, nhưng nếu không phải xét xử càng tốt hơn”(9). Thấm nhuần tinh thần đó, với tư cách là Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung Ương, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã nhấn mạnh: “Một nền tư pháp dân chủ, mang đậm tính nhân dân sẽ không chấp nhận những thủ tục rườm rà, nhiều tầng nấc, quan liêu và bất lợi cho các bên tham gia tố tụng”(10). Tư tưởng ấy chính là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người quan niệm dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân.
Chính ở điểm mấu chốt liên quan đến các giá trị của dân chủ mà nhiều người thường hay nhắc đến trong một Nhà nước pháp quyền, thực chất nhân quyền lớn nhất chính là quyền được sống trong độc lập và tự do như Bác Hồ đã nói. Ý nghĩa sâu xa trong câu nói của Bác Hồ chính là ở chỗ, vấn đề cốt lõi của việc xây dựng và hoàn thiện các thiết chế và thể chế tư pháp của đất nước Việt Nam hiện nay chính là vấn đề của đời sống dân sinh, hướng đến việc bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân, trong đó có việc bảo đảm quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Ngay từ những đạo luật, pháp lệnh đầu tiên của Nhà nước Việt Nam mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt bút ký sau năm 1945, Người đã quan tâm đến việc ban hành Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, Luật về quyền tự do hội họp và Luật về quyền lập hội (1957)...
Có thể khẳng định rằng, giá trị văn hóa lớn nhất chính là sự bảo đảm quyền con người và pháp luật dựa trên cội nguồn nhân nghĩa ấy thấm đậm đến “thôn cùng, ngõ hẻm”. Vì thế, việc xây dựng được một hệ thống pháp luật nhân nghĩa cần bao hàm trong đó giá trị là một đại lượng cho sự công bằng, đặt các khuôn khổ mang tính cưỡng chế của pháp luật chỉ để nhằm mục đích tạo được môi trường yên dân. Đó cũng chính là nền tảng đạo đức của văn hóa và pháp luật, hướng đến một nền tư pháp mang đậm tính nhân dân, các giá trị về quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp, từng bước hạn chế đi đến loại trừ những sai sót từ phía cơ quan tư pháp gây ra những số phận bị hàm oan có thể làm tổn thương hòa khí đất nước. Trên cách tiếp cận như vậy, có thể coi văn hóa pháp luật Việt Nam là các giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông ta bao đời nay tích tụ được qua sự biến thiên của thời cuộc, mà biểu hiện rõ nét nhất chính là cội nguồn nhân nghĩa nuôi dưỡng nền văn hóa pháp luật, thông qua các thành tựu văn minh pháp lý thể hiện qua các đạo luật, thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật.
1.2. Lát cắt không gian văn hóa pháp đình trong văn hóa pháp luật Việt Nam
Không gian văn hóa pháp đình chứa đựng trong đó những giá trị, chuẩn mực trong ứng xử của các chủ thể là những người hành nghề luật. Trong một thời gian dài, nhiều người quan niệm trong phòng xét xử của Tòa án không có chỗ cho ứng xử văn hóa, chỉ hiện diện mệnh lệnh và quyền uy, cùng với nó là mối quan hệ một chiều, từ trên xuống, muốn ban phát cho ai được hưởng ân huệ “sự tôn trọng” với tính cách một phạm trù văn hóa là do có ‘thành khẩn”, cúi đầu nhận tội hay không... Đôi khi, hình ảnh vị thần công lý bị bịt mắt để tỏ rõ như một trọng tài công minh và khách quan, không bị chi phối bởi bất cứ yếu tố tình cảm hay tác động bên ngoài dễ dẫn đến sự hoài nghi về các giá trị văn hóa trong con người thẩm phán. Người ta cũng thấy rõ dụng ý của nhà kiến trúc thời Pháp thuộc khi thiết kế trụ sở Tòa án, hướng cảm giác con người khi bước vào phòng xử án với tâm trạng run sợ, bị đè nén khi nhìn thấy sự nặng nề của cấu trúc, màu xám của tường và trần nhà, những hành lang tối và cao, sâu hun hút...
Cấu trúc không gian văn hóa pháp đình, vì thế không chỉ là quan hệ giữa người cầm cán cân công lý với từng số phận đi qua vành móng ngựa. Sự hiện diện của rất nhiều chủ thể khác nhau, với những lợi ích và mục tiêu hành xử khác nhau, tạo ra không gian đa chiều trong các hành vi ứng xử, mà các hành vi ấy tùy thuộc vào tri thức, nhận thức, trình độ văn hóa, kinh nghiệm cuộc sống của mỗi người. Hạt nhân của không gian văn hóa pháp đình tựu trung lại là những giá trị và chuẩn mực ứng xử hướng đến việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp. Trong không gian văn hóa pháp đình còn có vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa tranh tụng. Cội rễ của văn hóa tranh tụng chính là sự bảo đảm cơ hội ngang nhau trong việc trình bày quan điểm buộc tội và gỡ tội, không đánh đồng người bào chữa như là người đồng hành của tội phạm và phán quyết của Tòa án phải xuất phát từ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Một trong những nguyên tắc đổi mới hệ thống tư pháp chính là nguyên tắc bảo đảm sự công bằng trong xét xử, là hạt nhân quan trọng nhất của hoạt động xét xử. Muốn tạo khả năng công bằng và độc lập trong xét xử của Tòa án thì trước hết Tòa án phải có vị trí là một quan tòa khách quan, là trung tâm của hệ thống tư pháp và là nơi diễn ra công khai hoạt động xét xử.
Như vậy, có thể khẳng định các khái niệm văn hóa pháp đình, văn hóa tranh tụng đặt trong tổng thể của khái niệm văn hóa pháp luật được hiểu là không gian đa chiều tích tụ các “hạt” giá trị vật chất và tinh thần của các chủ thể hành nghề luật trong quá trình tiến hành và tham gia tố tụng, là sự kết tinh, tích lũy và biểu hiện cao nhất của quá trình tự nhận thức và vận dụng pháp luật, coi pháp luật là một đại lượng thể hiện cho tính minh bạch và sự công bằng.
2. Văn hóa nghề nghiệp luật sư trong mối quan hệ với văn hóa pháp luật Việt Nam
2.1. Thử đi tìm định nghĩa về khái niệm văn hóa nghề nghiệp luật sư
Xét về mặt thực tiễn xây dựng và thi hành pháp luật về luật sư từ khi giành được chính quyền năm 1945 đến nay, có thể nói đội ngũ luật sư Việt Nam có được một sự trải nghiệm vô cùng quý báu, được vinh dự đứng trong hệ thống chính trị và các thiết chế tư pháp phụng sự cho sự nghiệp đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc. Nhiều luật gia, luật sư tên tuổi như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Văn Hưởng, Trần Công Tường, Phan Anh, Vũ Văn Hiền... cũng thường xuyên được Chủ tịch Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến về các công việc quốc gia đại sự, về “mặt pháp lý của cuộc đấu tranh”, trong đó liên quan đến mặt trận đàm phán ngoại giao khi ký kết Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 (11))[1]. Bên cạnh Chính phủ liên hiệp lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn có vai trò đóng góp to lớn của đội ngũ luật gia, luật sư tên tuổi thời bấy giờ và đến lượt mình, các giá trị tư tưởng về pháp lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã động viên, góp phần giải quyết các mắc mứu, bất đồng nảy sinh trong quá trình hoạt động tư pháp, nhất là liên quan đến cuộc tranh luận về vấn đề “tư pháp độc lập”.
Sau khi đất nước thống nhất, qua hơn 22 năm đổi mới hướng đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, đội ngũ luật sư Việt Nam lại có thêm được những kinh nghiệm từ những va đập trong đời sống tố tụng và tư vấn phục vụ cho các chủ thể xã hội, từng bước tạo lập được vị trí, hình ảnh trong lòng xã hội và trái tim công chúng. Vì thế, trước mỗi một sự kiện chính trị- pháp lý hoặc tố tụng nào, các cơ quan quyền lực và hành chính, tố tụng, cũng như dư luận xã hội và người dân đều trông cậy vào các đánh giá về mặt pháp lý mang tính phản biện của giới luật sư, coi luật sư là một tầng lớp trí thức ưu tú, có phẩm chất đạo đức và kỹ năng hành nghề thành thạo, đặc biệt là mỗi hành vi ứng xử của luật sư có thể trở thành một biểu tượng văn hóa, là tấm gương cho tinh thần thượng tôn pháp luật. Giờ đây, trong mỗi phiên tòa hoặc trên các diễn đàn xã hội, mọi người trông đợi vào các bài phát biểu hùng biện của các luật sư, nhiều cuộc tranh luận đã trở thành mẫu mực của văn hóa pháp đình, để lại dấu ấn và các ý kiến khác nhau trong giới luật học về ý nghĩa đích thực của các giá trị văn hóa trong tranh tụng, thấm đẫm vào đời sống xã hội và văn hóa pháp luật Việt Nam.
Với cách tiếp cận mang tính lịch sử và trải nghiệm như vậy, có thể bước đầu đề cập đến khái niệm văn hóa nghề nghiệp luật sư như một phân ngành trong văn hóa pháp luật Việt Nam như sau:
Văn hóa nghề nghiệp luật sư là tổng thể các yếu tố từ nhận thức sâu sắc về bản chất hoạt động của luật sư, vai trò, vị trí của luật sư trong hệ thống tư pháp, tác động đến sự phát triển của dân chủ và xã hội, cùng toàn bộ các giá trị có được từ sự tích lũy các thành tựu trong quá trình xây dựng pháp luật về luật sư, cơ chế thực thi và mô hình nhằm tăng cường quản lý về mặt nhà nước với việc nâng cao năng lực tự quản của tổ chức hành nghề và tổ chức xã hội- nghề nghiệp luật sư, từ đó hình thành quan niệm đúng đắn và thái độ tuân thủ pháp luật, ứng xử đạo đức nghề nghiệp, là tấm gương phản chiếu các giá trị dân chủ của sự phát triển xã hội và tư tưởng nhân nghĩa vì con người.
Từ định nghĩa trên, khái niệm văn hóa nghề nghiệp luật sư có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, với tư cách là một bộ phận của văn hóa pháp luật Việt Nam, văn hóa nghề nghiệp luật sư được hiểu trước hết là ý thức và quan niệm đầy đủ về chức năng xã hội của hoạt động nghề nghiệp luật sư, về sứ mệnh mà xã hội và người dân giao phó, trông cậy vào đội ngũ luật sư như là tầng lớp trí thức ưu tú biểu hiện cho một thiết chế phản biện xã hội, vận hành trong một chỉnh thể thống nhất của hệ thống tư pháp trong một xã hội dân chủ, phản ánh các giá trị nhân bản, đấu tranh vì việc đảm bảo quyền con người trong đời sống xã hội và hoạt động tư pháp, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hai là, nội hàm của khái niệm văn hóa nghề nghiệp luật sư bao gồm thành quả của quá trình hình thành và phát triển pháp luật về luật sư, mà đỉnh cao của nó chính là sự ra đời Luật Luật sư năm 2006, chứa đựng trong đó những giá trị căn bản không chỉ là văn minh pháp lý mà cả khuôn mẫu đạo đức và văn hóa, dựa vào đó mỗi luật sư và tổ chức hành nghề luật sư phải tuân thủ, hướng đến. Dựa trên khuôn khổ pháp lý này, từng bước xây dựng một đội ngũ luật sư có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thông về chuyên môn và kỹ năng hành nghề, trở thành lực lượng hướng dẫn văn hóa- pháp luật, góp phần thúc đẩy sự phát triển dân chủ của xã hội.
Ba là, tính bền vững của văn hóa nghề nghiệp luật sư chỉ có thể có được từ quá trình xây dựng một cơ chế thực thi pháp luật về luật sư có hiệu lực, giải quyết tốt mối quan hệ kết hợp giữa tăng cường quản lý Nhà nước với việc nâng cao vai trò tự quản của hoạt động nghề nghiệp luật sư, cũng như thiết kế cho được mô hình quản lý luật sư phù hợp với đặc điểm và điều kiện phát triển ở Việt Nam